Thứ Tư, 1 tháng 6, 2011

Dưới Chân Thập Tự

Mẹ ngồi đây, mẹ chẳng biết bây giờ là ngày hay đêm, chẳng biết bên cạnh có ai. Vì đối với mẹ, thời gian và không gian lúc này là vô nghĩa. Nhớ lúc con còn nhỏ, cha mẹ đưa con lên đền thánh, mẹ đã được dự cảm một tương lai bất định và chẳng lành, nhưng mẹ vạn lần không hình dung sự việc lại như thế này.
Lúc này mẹ muốn khóc thật to, khóc thật lâu nhưng có gì đó nghèn nghẹn nơi cổ, mà có lẽ mẹ cũng chẳng còn nước mắt để mà khóc nữa… Cái ngày con rời gia đình đi thực hiện sứ mạng của Cha con trao phó, mẹ cũng chỉ biết thầm thĩ nguyện cầu cho con được bình an, khoẻ mạnh. Và suốt những năm con bôn ba đi đây đó rao truyền chân lý. Mẹ luôn đi theo con, và khi thấy con được mọi người mến mộ, mẹ vui mừng lắm, nhưng mẹ cũng chỉ giấu niềm vui ấy trong lòng. Và đôi khi, mẹ muốn đến lau những giọt mồ hôi đổ trên trán con trong những ngày nóng bức, nhưng mẹ lại không làm, vì muốn để con chuyên tâm lo việc của Cha con.
Đã bao lần mẹ muốn đến thật gần con, nhìn kỹ gương mặt yêu dấu con trai của mẹ… Và giờ đây, mẹ đã thực hiện được ước vọng ấy. Nhưng thật không ngờ, lại chính là lúc con đã không còn nữa. Lúc này đây, lòng mẹ như trăm ngàn lưỡi dao đâm nát tâm tư. Con có còn nhìn mẹ nữa không, con có nghe tiếng mẹ thổn thức nữa không, con có còn ở đó không hay đã đi xa rồi. Tại sao con vẫn không trả lời mẹ? Con có biết mẹ mong chờ con nói với mẹ dù chỉ một câu nữa thôi không? Ôi đứa con yêu dấu của mẹ…
Con à! Mọi người đâu hết rồi, những người mà chỉ vài hôm trước đây còn đi theo con, còn những tiếng tung hô, họ đâu cả rồi. Con có biết không? Khi nãy nghe những tiếng họ sỉ vả con, họ la lối đòi đóng đinh con vào thập giá, mẹ sợ lắm, mẹ sợ như khi họ tung hô con vậy. Mẹ sợ những náo nhiệt ồn ào, mẹ sợ quyền thế, mẹ sợ miệng lưỡi thế gian… Giờ đây thì mọi thứ đã vắng lặng hết rồi, mẹ tưởng như cả thế gian này chỉ còn con và mẹ. Và mẹ ước thời gian ngừng trôi, để mẹ được mãi gần con như thế này, dù chỉ là thân xác bất động của con, dù mẹ không thể nghe con nói nữa. Ôi! Đứa con trai bé nhỏ của mẹ…

Thứ Ba, 31 tháng 5, 2011

Chuông chiều

Có những điều ta tưởng như chưa bao giờ xảy ra trong đời. Cũng có những điều ta tưởng như không còn tồn tại trong ký ức. Để rồi một ngày nào đó, nó lại đến, hiện diện trong ta, sống động và tròn đầy. Cái khoảnh khắc ấy, như là nỗi nhớ da diết, như ngọn lửa âm ỉ bất tận trong đáy lòng.
Và chiều nay, ta ngồi một mình, sân thượng lộng gió và heo hắt chút nắng cuối ngày. Ta không ngồi để chiêm niệm cuộc đời, cũng chẳng ngồi để đuổi theo một trang sách hay một tờ báo nào cả. Chỉ đơn giản là ngồi, như “tượng đá trong rừng cây già” vậy.
Những dòng suy nghĩ cứ thoắt ẩn thoắt hiện, cơ hồ ta như bất động trong dòng sông liên miên vô thường ấy. Cuộc sống với những bộn bề lo toan, dường như chìm đắm trong khoảnh khắc, không còn những mệt mỏi toan tính, không còn những suy tư khắc khoải. Ta lại cảm thấy thật thanh thản. Hít một luồng khí như cảm lấy trọn giây phút tuyệt vời này. Ừ! Sống thì phải biết nghỉ ngơi, biết thư giãn.
Và kìa! Từ đâu vọng lại tiếng chuông đổ, từng hồi, từng hồi một như mời gọi, như thôi thúc. Chúa ơi! Đã lâu lắm rồi không nghe cái âm thanh đã đi vào tuổi thơ này. Dẫu rằng, ta vẫn đến nhà thờ tham dự Thánh lễ, dẫu rằng ta vẫn cứ chu toàn bổn phận hàng tuần. Nhưng lại chưa một lần ngồi nghe tiếng chuông ngân, thật chậm rãi, khoan thai. Nhưng cũng ẩn sâu những thúc đẩy. Và ta cứ ngồi im thế, nuốt lấy từng âm thanh tinh khiết. Để lòng trải ra với bao hoài niệm. Ta thấy ta như cậu bé con con, sung sướng trong bộ áo lễ sinh, rồi như một thiếu niên, hăng say đến nhà thờ để được học giáo lý, được chơi đùa. Và rồi, ta thấy, ta khóc…
Có lẽ ta quá mệt mỏi với công việc, mà quên đi những thứ tưởng như tầm thường giản đơn. Một hồi chuông đổ. Hồi chuông ấy là cả một ký ức về một thời xa xăm, là cả một cuộc sống vô ưu. Chợt nghĩ, nếu cần “một vé đi tuổi thơ” thì tiếng chuông kia có lẽ chính là tấm vé ấy.
Lạy Chúa! Có phải con đã đi quá xa? Có phải những ê chề, thất bại đường đời, con đã nếm đủ để cảm nhận rằng: con mãi chỉ là một đứa trẻ con? Vâng! Con cũng chỉ mong vậy, một đứa trẻ con trong tay Cha. Chiều nay, con lại khẽ hát: “chuông chiều vang đâu đây…”

Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2011

Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philípphê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. (Ga 14,9)

Thứ Năm, 19 tháng 5, 2011

Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. (Ga 14,6)

Phu quét đường

Một buổi sáng thảnh thơi, tranh thủ làm một số việc ưa thích mà đã từ lâu không có cơ hội làm. Ghé quán cà phê cũ, quán không có bàn mà chỉ sắp vài cái ghế nhựa con con trên lề đường. Nhâm nhi  từng muỗng cà phê và thả hồn vào cõi mông lung diệu vợi phía trên đầu. Ngắm những đường dây điện chằng chịt như đang ôm lấy cái sự sống nghẹt thở của phố thị, xa xa trên kia là bầu trời xanh ngắt chen lẫn những đám mây trắng bồng bềnh đang cố trèo qua mái tòa nhà cao sừng sững.
Đang liên miên thì bỗng những âm thanh “soẹt, soẹt” làm phá tan phút an nhàn đang được tận hưởng đó, định thần lại thì trước mặt là một người đàn ông, đang chăm chú lặp đi lặp lại một động tác tưởng chừng như không bao giờ dứt, cái chổi trong tay người đàn ông cũng “chăm chú” quét xuống mặt đường thật nhiệt tình.  Một luồng suy nghĩ thoáng qua trong đầu, cái công việc ấy thật nhàm chán, có phần đơn điệu và chắc cũng chẳng cần phải bận tâm sáng tạo gì mấy. Còn mải mê suy nghĩ thì bỗng từ xa có hai cô bé chạy trên chiếc tay ga phóng tới, từ trên chiếc xe, một bàn tay của cô bé ngồi sau quăng ra một vật, hướng về phía đống rác chỗ người đàn ông đang quét. Cái “vật thể bay không xác định” đó bay vượt qua khỏi đống rác và có chiều hướng phóng thẳng về phía tôi đang ngồi. Theo phản xạ tự nhiên, tôi nhổm người tính nhảy ra khỏi ghế, vì nhìn kỹ thì cái vật thể lạ hình như là ly nước giải khát bằng nhựa còn gần đầy, nếu bay trúng người thì e là nước trong ly sẽ tung khắp người tôi. Tôi vừa nhổm người dậy, thì nhanh như cắt, người đàn ông cầm cây chổi đưa ra phía trước hướng bay của cái ly, nhẹ nhàng lướt mái chổi theo đà bay của nó, rồi dừng lại đúng lúc, khiến cái ly ngoan ngoãn nằm gọn trong lòng mái chổi và không một giọt nước nào bắn ra ngoài. Tôi quan sát từ đầu đến cuối động tác đó, dù nó chỉ diễn ra trong khoảnh khắc. Kết thúc hành trình bay của vật thể kia, tôi bỗng buột miệng thốt lên: võ công giỏi quá. Người đàn ông nhìn tôi mỉm cười, chậm rãi nói: “cái gì mà võ công, quen tay thôi”. Rồi tiếp tục với công việc của mình, người đàn ông khẽ lắc đầu và nói nhỏ như đang tự nhủ với mình: “bây giờ con người ta vô tình đánh rơi nhiều thứ quá”. Tôi nghe câu đó bỗng bật cười trong lòng và nhủ thầm: ông này có vẻ hài hước trước chuyện đời éo le quá. Rõ ràng cái ly nước được cố tình quăng ra về phía đống rác, thế mà người đàn ông đó lại nghiễm nhiên cho rằng cái đó là do vô tình đánh rơi. Đang lan man suy nghĩ, bất giác trong đầu xuất hiện một suy nghĩ khác: câu nói kia không đơn giản là một câu hài hước, nó dường như hàm chứa một thiền cơ trong cuộc sống bình thường. Một hành động quăng ly nước xuống đường, nó đã kéo theo cả một ý thức. Và hành động cố tình quăng ly nước, lại là vô tình đánh rơi cái ý thức của người có hành động kia. Nghĩ đến đó mới cảm thấy câu nói sâu xa và cũng khâm phục người đàn ông ấy. Tưởng chừng công việc nhàm chán kia làm cho người ta không thể phát huy được những suy nghĩ sâu xa, nhưng thật là lầm to, chính ta mới là người đang nhàm chán trong cách nhận định về một con người. Và lại thêm một suy nghĩ khác hình thành trong đầu, có lẽ ta cũng chẳng khác người đàn ông đó. Với công việc giáo dục các em thiếu nhi, trong một chừng mực nào đó, ta cũng là một người phu quét đường. Cuộc sống bộn bề với học hành và thăng tiến, rồi biết bao sự đổi thay của xã hội. Các em dường như rơi vào cái vòng xoáy bất tận của cuộc sống luôn đổi thay. Và trên đường đời, lắm lúc cũng vô tình đánh rơi nhiều thứ: những giá trị truyền thống, những quan điểm đúng đắn về giá trị con người… Và đối lập với sự vô tình đánh rơi ấy, ta đóng vai trò là một người phu quét đường, thu nhặt lại tất cả, dĩ nhiên không để quăng vào sọt rác, và cũng không để giữ cho riêng mình như là một hoài niệm về quá khứ. Mà ta muốn giữ lấy, khắc ghi vào những thứ bị đánh rơi tên của chủ nhân nó. Để đến một ngày nào đó, chủ nhân món đồ bị đánh rơi cần tìm lại nó, ta sẽ trả lại cho em đầy đủ, không thiếu một thứ gì. Bỗng cảm thấy có vẻ hành trang sắp tới sẽ càng thêm nặng nề, không biết có đủ sức mang theo không, chỉ sợ mệt mỏi giữa đường, buông gánh hành trang mà tìm về chân trời khác. Nhưng dù sao đi nữa, phía trước vẫn còn niềm tin vào Thầy còn mãi hiện diện để giúp sức, ta lại lên đường… Ngày nắng đẹp!

Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em! (Ga 13,17)

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2011

Nét Vẽ Cuối Cùng

Nếu tôi có một nét vẽ. Xin vẽ một đường thẳng vút lên trời cao. Xé toang màn đêm u tối của những ngờ vực, vạch đôi bầu trời dày đặc những mây đen của đố kỵ, hờn ghen. Nét vẽ ấy, tôi gọi tên nét vẽ của Sức Mạnh. Nếu tôi có thêm một nét vẽ, xin vẽ một đường ngang dài trong bóng tối. Kết nối 2 khoảng bầu trời đã bị xé đôi. Mở rộng vòng tay cho lấp đầy yêu thương và hạnh phúc. Nét vẽ ấy, xin gọi tên là Yêu Thương. Hai nét vẽ hợp thành một hình,  tôi gọi tên là Thập Giá, bức hình giản đơn với hai đường thẳng, nhưng nơi ấy là sâu xa ý nghĩa. Sức mạnh tình yêu có thể là diệu vợi, nhưng sẽ trở thành vô nghĩa nếu hai nét vẽ không kết hợp. Càng nhìn bức tranh tôi lại càng cảm thấy choáng ngợp. Trước muôn ý nghĩ biết nói ở trong lòng.
Nhưng...
Sao cảm thấy có vẻ chông chênh quá. Thập Giá đứng giữa trời xanh có thể rơi bất cứ lúc nào.
Tôi lại xin thêm một nét vẽ. Từ dưới chân Thập Tự tôi vẽ một đường cong, kéo dài xuống phía góc phải của bầu trời. Tôi kéo cho đến khi chạm đất. Và xin gọi nét vẽ ấy là Tình Yêu Trao Ban. Từ chân Thập Tự, tình yêu đã lan tràn mặt đất. Tôi cảm thấy mặt đất như hồi sinh. Với những khúc tự tình của nhân trần. Và từ đây, một bên triền đồi Calve đã thành hình. Tôi lại xin thêm một nét nữa. Để hoàn tất bức tranh còn dang dở. Tôi muốn vẽ một tình yêu từ mặt đất, vươn lên trời xanh như đáp trả, những ân tình cao vợi đã trao xuống. Tôi lại vẽ một đường cong, từ góc trái phía dưới của bầu trời, nơi mặt đất đang nở hoa tình ái. Kéo một đường lên đến chân Thập Tự, kết thúc ở nơi đã khởi nguồn nét vẽ thứ ba. Và gắn kết với nét vẽ tuyệt vời ấy. Tôi gọi đó là Ân Tình Đáp Trả.
Nhưng...
Tôi vẽ mãi vẫn không thể hoàn tất. Nét vẽ rất khéo và rất đẹp. Nhưng vẫn không thể kết nối vào nét thứ ba. Có khi điểm cuối trật lên lại trật xuống. Tôi xóa nét ấy đi và vẽ lại. Tôi cẩn thận khi hai nét gần chạm nhau. Rất chậm và rất chỉn chu. Nhưng khi vẽ chậm tay tôi lại run rẩy. Khiến nét vẽ như gẫy khúc và vỡ tan. Tôi lại xóa đi và toan vẽ lại. Nhưng cảm thấy sao khó khăn quá. Trong gian truân tôi vẫn chắp tay nguyện cầu. Và lần này cũng thế. Tôi nguyện cầu rất lâu và chân thành. Xin cho tôi có thể hoàn tất bức hình. Mãi lúc sau tôi nghĩ ra một cách. Tôi mỉm cười và lại bắt tay vào việc. Lần này, tôi không bắt nguồn từ phía dưới nữa. Nhưng khởi nguồn nét vẽ cuối là chính điểm kết. Tôi kéo một đường cong từ chân cây Thập Tự, xuống phía góc trái của đời nhân loại. Nét vẽ rất đẹp và không tỳ vết. Và bức tranh đã hoàn tất ngoài mong đợi. Thập Giá trên đồi Calve đã hình thành. Lúc này đây thì bóng tối đã chìm ngập. Ngày đã tàn và tôi cũng đã mệt. Tôi đi ngủ nhưng trong mơ vẫn thổn thức. Bức tranh kia quả thật tuyệt vời.
Nhưng...
"Tại sao con không vẽ nét cuối cùng?
Ô! Ngài là ai?
Ta là người đã theo dõi con vẽ suốt ngày nay.
Thế Ngài là Thiên Chúa sao?
...
Thưa Chúa! Chẳng phải con đã hoàn tất bức tranh đó sao? Chẳng phải nét vẽ cuối con cũng đã vẽ đó sao?
Đó không phải nét vẽ của con. Ta muốn con vẽ nét từ phía dưới góc trái lên. Đó mới chính là nét vẽ của con.
Nhưng thưa Ngài. Nếu con vẽ thế, thì bức tranh sẽ không đẹp, vì con không thể kết nối hai nét vẽ thứ ba và thứ tư. Và như thế thì ngọn đồi Calve sẽ trở nên chông chênh lắm.
Ta biết. Nhưng ta thích nét vẽ ấy. Vì nó chính là con người con. Và nhìn nó, con sẽ luôn tự vấn lương tâm rằng con còn phải gắng cố rất nhiều.
Thưa Ngài...
Con hãy vẽ lại và hoàn tất bức tranh nhé."
Tôi tỉnh dậy và mơ hồ suy nghĩ. Thực hay mơ giữa cuộc ảo mộng. Nhưng có quan trọng gì đâu giữa mơ và thực. Vì tôi cảm thấy một sự thúc đẩy. Tận thẳm sâu trong tâm hồn hỗn độn. Tôi muốn vẽ lại nét cuối cùng. Tôi xóa đi và vẽ lại nét ấy. Không cẩn thận và cũng không áp lực. Một đường cong phía dưới nơi góc trái. Kéo lên phía chân cây Thập Tự. Vẫn không thể kết nối hai nét vẽ. Tôi ngẩn người nhìn thật lâu và suy nghĩ.
Đẹp quá!
Tôi đã nghiệm ra nét đẹp của Tình Yêu. Đó là những sai sót và yếu đuối. Là những vấp ngã và những trắc trở. Nhưng vẫn còn đó một sự nâng đỡ, vẫn còn đó những lời ủi an. Và tất cả là một hồng ân.
Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi. (Ga 10,28)
Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi. (Ga 10,14)

Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2011

Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào. (Ga 10,10)

Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2011

nền giáo dục trên một hòn đảo

Đã lâu lắm không đọc những tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh. Từng có một thời tôi mê những “Mắt Biếc”, “Bàn Có Năm Chỗ Ngồi”, “Cô Gái Đến  Từ Hôm Qua”… Những câu chuyện của trẻ thơ, của cái tuổi hồn nhiên trong sáng và cũng không thiếu phần lãng mạn. Ở trong những câu chuyện ấy, tôi đã lớn lên những tình cảm giản dị và lặng lẽ. Và từng ao ước ta sẽ giữ mãi những tình cảm ấy. Nhưng cuộc đời vẫn thế, nó không cho phép bất kỳ ai dừng lại ở bất kỳ điểm nào. Tôi lớn lên, tìm hiểu và va chạm, từng trải và cảm nghiệm, những câu chuyện tuổi niên thiếu ấy đã đi vào quá vãng, xếp vào một ngăn ký ức xa xăm nào đó.
Để rồi thật tình cờ, tôi gặp lại Nguyễn Nhật Ánh, vẫn cái giọng văn đầy tính hài hước, vẫn những tình tiết lôi cuốn, nhưng tôi thì đã khác. Tôi đọc truyện ông viết không để mơ mộng nữa, mà như là một trải nghiệm cuộc sống.
Đặt cuốn “Đảo Mộng Mơ” xuống bàn, thế là cứ lan man suy nghĩ. Không biết vì lý do gì mà ông lại đặt tên truyện như vậy? Những đứa trẻ đâu có gọi đó là Đảo Mộng Mơ? Chúng gọi nó là đảo Robinson, đảo Cát kia mà? Hay chính tác giả đang mộng mơ? Đang lan man thì chợt một suy nghĩ hiện lên trong đầu. “À, ra thế, có lẽ ông mộng mơ và muốn gieo vào lòng độc giả một vùng đất mơ mộng”. Có lẽ lứa niên thiếu thì sẽ có mộng mơ theo tuổi của chúng, người lớn cũng sẽ mộng mơ. Riêng tôi, mộng mơ về một nền giáo dục đầy nhân bản.
Ở quanh cái đảo hoang của những đứa trẻ, là biết bao câu chuyện có thực của cuộc sống, chuyện trẻ con thì dĩ nhiên là phải có, vì ông viết cho chúng mà. Nhưng chuyện người lớn cũng có. Ở đó, người lớn đóng vai trò là nhà giáo dục. Ở đó xuất hiện một ông bố tuyệt vời, công nhận cái đảo là có thật và còn hơn thế nữa, ông đã tặng hẳn cho cậu con Chúa Đảo của mình một cái ống dòm để  sống trên đảo cho ra dáng. Ở đó cũng xuất hiện một cô giáo trẻ, bất ngờ với những suy nghĩ rất thơ của đám trẻ, quyết tâm tìm hiểu cái vùng đất hoang vu ấy. Để rồi cuối cùng thốt lên: “đây đúng là một hòn đảo”. Nếu như người bố đã làm tôi xúc động vì lòng yêu mến thì cô giáo trẻ lại khiến tôi như nghẹn ngào. Nghẹn ngào bởi tôi hiếm khi, có thể nói là chưa bao giờ, gặp một mẫu người như thế. Tận tụy với công việc giáo dục, hiểu rất rõ tâm lý trẻ con, biết chúng cần phải có một vùng đất hoang vu và tự do. Ngày nay có lẽ một nhà giáo như thế không có nhiều. Nhà giáo bây giờ hầu như không còn mang thiên chức giáo dục nữa, mà như chỉ có chức năng kiếm tiền, chức năng nhồi nhét kiến thức vào những cái đầu vốn chẳng hiểu học để làm gì. Cũng không thể trách họ nhỉ. Vì cuộc sống vốn phải thế mà.
Tôi bỗng tự đặt câu hỏi. Nếu như cô giáo trẻ ấy không đến với bọn trẻ, nếu như đến mà buông một câu: “đây chỉ là đống cát” thì sự thể sẽ như thế nào? Có lẽ sẽ thật khắc nghiệt cho đám trẻ, chúng sẽ bị tước đoạt đi một niềm tin thơ ngây, chúng sẽ bị tước đoạt một vùng đất màu mỡ trí tưởng tượng. Và chắc chắn sẽ bị “nhồi sọ” rằng: sống phải thực tế một chút. Phải tranh thủ học để trở thành thần đồng, ít nhất cũng phải giỏi để cha mẹ nở mày nở mặt, và sau này dễ kiếm tiền. Như thế thì thiệt thòi cho chúng biết bao. Ừ! Nguyễn Nhật Ánh vốn yêu trẻ con mà, làm sao ông có thể để cho bất kỳ ai tước đoạt niềm vui nhỏ nhoi của chúng được.
Nhưng đó là Nguyễn Nhật Ánh ở trong truyện thôi. Nguyễn Nhật Ánh ngoài đời thì làm được gì. Xã hội là xã hội, cuộc sống là cuộc sống. Ông đâu thể thay đổi những điều đó. Ông đâu thể xóa bỏ một nền giáo dục “nhồi sọ”, một phương cách giáo dục vô nhân bản như hiện nay. Cho nên ông chỉ mộng mơ. Cho nên ông chỉ dám vẽ lên một phương cách giáo dục đầy tính nhân văn. Có lẽ ông muốn nói với những ai đang làm công tác giáo dục: hãy biết mộng mơ, hãy hiểu đám trẻ đang nghĩ  gì, muốn gì.
Chợt nghĩ đến các huynh trưởng chúng ta, trong vai trò giáo dục các em thiếu nhi, chúng ta có biết mộng mơ không nhỉ?

Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2011

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2011

Thật, tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời. (Ga 6,47)

Tây Nguyên cảm tác

Tây Nguyên gió lạnh tê hồn người,
Trời mây gió núi đứng chơi vơi.
Lữ khách đường xa còn mê mải,
Cảnh sắc thanh bình đứng hát chơi.
Lạnh lùng đêm xuống, sương trong gió,
Nhịp điệu cồng chiêng nhạc hồn rơi.
Lửa sáng buôn Đôn vẫn mời gọi,
Những ai hồn không... đứng giữa trời.
Ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai. (Ga 6,39)

Thứ Ba, 10 tháng 5, 2011

“lie” and “believe”

Tiêu đề bài viết xin tạm dùng những từ tiếng Anh. Chẳng phải muốn khoe hay ngoại ngữ, vì thực chất vốn ngoại ngữ chẳng bao nhiêu. Nói như những người thầy từng dạy thì rằng: cái thằng một chữ tiếng Anh bẻ đôi cũng chẳng biết. Dùng từ tiếng Anh để làm tiêu đề bài viết, vì có một cuộc tranh luận khá thú vị với học trò về hai từ này.
Một danh từ chỉ sự dối trá, một động từ hàm chứa nghĩa tin tưởng. Có vấn đề gì với hai từ này? Quả thực, khi học trò chỉ ra trong từ “believe” có chứa từ “lie”, và cắt nghĩa rằng: có sự dối trá trong lòng tin. Ta nghe câu ấy xong, chợt thấy chấn động trong lòng. Không phải chấn động vì cái phát hiện kỳ khôi kia của học trò, nhưng chấn động về cái cắt nghĩa mang tính chất thời sự, mà ta chưa bao giờ nghĩ đến. Có thực sự là niềm tin luôn ẩn chứa sự dối trá?
Trước khi lạm bàn vấn đề này, xin thắp nén hương lòng lên các vị tiền bối đã phát minh ra Anh ngữ, vì không biết các vị có hàm ý gì chăng? Kẻ hậu bối chỉ viết đôi dòng theo cuộc tranh luận và theo những suy nghĩ trong lòng, tuyệt không dám bàn về ý nghĩa của hai từ này.
Trên mặt cấu tạo ngôn ngữ, rõ ràng “believe” có chứa “lie”. Hay có thể nói, để tạo nên từ “believe” hoàn chỉnh cần có sự tham gia của “lie”. Vậy có đúng là lòng tin đang bao hàm sự dối trá chăng?
Xét trên phương diện cuộc sống bình dị, thì đôi khi, lòng tin của ta dường như cũng chứa một phần nào đó sự dối trá. Và phần dối trá ấy, có thể hiểu theo hai cách sau:
Thứ nhất: dối trá trong chính bản thân ta.
Để tin một ai đó, có lẽ rất khó khăn, nhất là trong cuộc sống mà con người luôn tạo ra cho mình những vỏ bọc được cho là an toàn. Chính vỏ bọc ấy khiến ta nhìn nhận lầm lẫn về con người xung quanh. Có những nhầm lẫn vô hại, nhưng cũng không thiếu những nhầm lẫn gây hậu quả nghiêm trọng. Trước thực trạng ấy, ta cũng phải mang trong mình một vũ khí đề phòng. Và chọn lựa hiển nhiên, đó là thứ vũ khí dối trá. Ta dối trá ngay trong cả niềm tin với một ai đó, có thể là bạn bè, người thân, hay những người quen biết. Vũ khí ấy, chắc chắn là một phản vệ tự nhiên, nhưng phản vệ ấy, liệu có phải là giải pháp tốt? Sâu xa hơn, xin nói đến lòng tin trên bình diện nhân đức đối thần - Lòng tin vào Thiên Chúa. Ta có thực sự phải là kẻ tin hay không? Câu hỏi tưởng chừng đơn giản, nhưng lại không đơn giản chút nào, nhất là khi ta chiêm niệm cách nghiêm túc về nó. Quả thực, ta vẫn thường hay nói đến đức tin, thường hay tuyên xưng rằng ta tin. Thậm chí ta tin rằng ta luôn luôn tin. Nhưng xem ra, cái sự tin ấy, cái lòng tin ấy, có lẽ nó chỉ xuất hiện trên môi miệng chúng ta và trên vành tai của người nghe mà thôi, chưa thực sự là chính cuộc sống của chúng ta. Chúng ta bảo rằng chúng ta tin, nhưng cuộc sống mà ta đang sống, chẳng nói lên điều gì nhiều sự tin tưởng vào Đấng Sáng Tạo. Đôi khi lời nói còn không đi với việc làm. Ta làm những điều mà khiến người khác nhìn vào không thể tin được là ta có niềm tin vào Thiên Chúa. Vậy đó có phải là niềm tin ẩn chứa sự dối trá chăng?
Thứ hai: dối trá trong những người xung quanh
Niềm tin sẽ là mơ hồ, nếu không có những trải nghiệm. Cuộc sống nhìn ở một góc độ nào đó, nó được cấu thành từ những mối tương quan giữa con người với nhau và với Thiên Chúa. Trong mối tương quan giữa người với người. Hay nói rõ hơn trong phạm vi bài viết, là mối tương quan giữa những người xung quanh với ta. Trong mối tương quan ấy, để làm việc với nhau, kết nối với nhau, người ta cần một ít tin tưởng. Tin tưởng nhiều thì tương quan mật thiết, tin tưởng ít hơn thì tương quan có vẻ mờ nhạt. Và như quan điểm thứ nhất vừa nêu, chính ta đang tạo cho mình một vỏ bọc, thì những người xung quanh, cũng phải tìm cho mình một vũ khí để tự vệ. Lòng tin của mọi người xung quanh đối với ta qua lăng kính của thứ vũ khí kia, có lẽ không phải là trọn vẹn vì rất cần một sự dối trá nhất định để hộ thân. Không ai muốn trao gởi một niềm tin tuyệt đối vào một ai, hay vào bất cứ một điều gì cả.
Từ hai quan điểm ấy, xem ra niềm tin là thứ lý thuyết quá xa vời, nếu không muốn nói là viển vông. Vậy tại sao nó vẫn tồn tại, ít là trên mặt ngôn ngữ?
Quay trở lại với sự so sánh về mặt cấu thành từ “believe”. Cấu trúc nên từ ấy, cần 07 âm sắp xếp lại với nhau, trong đó chỉ có 03 âm hàm chỉ “lie” – sự dối trá. “Tương quan về số lượng” thì ta thấy “lie” không thể đủ sức đánh đổ “believe”. Nhưng “believe” rõ ràng vẫn không thể triệt tiêu “lie”, nó cần có “lie” để tồn tại. Và chính vì sự tồn tại cộng sinh ấy, cho ta một suy nghĩ: từ “lie” vẫn sống, nhưng nó đã sống một cuộc sống khác - cuộc sống của “believe”, nó không còn sống cho riêng bản thân nó nữa. Và “believe” có vẻ đang cưu mang “lie”, nó biến đổi “lie” trở nên một ý nghĩa khác, tích cực hơn.
Từ suy nghĩ ấy, chợt nhớ đến câu nói bất hủ của Thánh Phaolo: ”Không còn là tôi sống nữa, nhưng là chính Chúa Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Vâng! Con người là “lie”, là dối trá, là yếu hèn, là mỏng dòn. Con người ấy phải chết đi, để dễ dàng hòa nhập với cuộc sống mới, cuộc sống thánh thiện, cuộc sống ý nghĩa và tích cực. Ở nơi cuộc sống ấy, chính Thiên Chúa sẽ sống, sẽ hành động. Ta quay trở về với căn tính nguyên thủy của ta, là người cộng tác trong công trình của Ngài. Và chính nhờ có Thần Khí mà ta được ơn tin tưởng. Thần Khí sẽ cho ta một sự tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, và tin tưởng tha nhân trong tình yêu chứ không trong sự ngờ vực. Nghiệm ra được chân lý ấy, cảm thấy cuộc sống bớt đi vẻ ngột ngạt. Dẫu biết rằng, đâu đó vẫn còn những sự dối trá, nhưng hãy cầu nguyện để lòng tin thêm vững mạnh, để kết hiệp với Ba Ngôi Thiên Chúa là nguồn mạch sự sống và khởi thủy của lòng tin. Ta cần yêu thương để thánh hóa bản thân và cải hóa sự dối trá tồn tại độc lập, đưa nó vào cuộc sống và bầu khí của tin tưởng, yêu thương.

Chuyện rất nhỏ

Đã một tuần trôi qua kể từ khi tạo cho mình trang blog này. Chỉ một tuần ngắn ngủi, mà đã bao việc cần phải suy nghĩ. Trong những ngày đầu tiên, ta nghĩ rằng công việc trên blog này thật đơn giản. Chỉ là chép một câu lời Chúa trong ngày, kiếm một tấm hình phù hợp có sẵn trên "net" và "quăng" vào bài làm hôm đó. Ừm! Đơn giản thật, đơn giản đến mức tầm thường. Ta tưởng rằng sẽ chu toàn mỗi ngày công việc rất nhỏ ấy. Nhưng không, ta lầm...

Thực sự chỉ có một tuần, mà ta đã hơn một lần không chu toàn bổn phận. Có lẽ khi biện bạch cho việc ấy, ta sẽ có hằng hà sa số những lý do, mà lý do nào có lẽ nghe cũng hợp lý cả. Thế nhưng ngẫm nghĩ sâu xa hơn, chỉ có 2 phút mỗi ngày, 2 phút cho một lời hứa, 2 phút cho một tâm niệm, thế mà ta vẫn làm không xong. Vậy thì đâu là lý do?

Khi nghĩ đến điều này, ta không có lý do để bào chữa, nhưng lại có lý do giải thích việc ta thất tín. Đó là ta chưa từng xem trọng công việc này, ta đã chưa từng có một thái độ tích cực, hay nói một cách khác: ta đã không làm một việc tầm thường với một tinh thần phi thường.

Thôi thì mọi chuyện đã qua, có muốn thời gian quay trở lại cũng chẳng được, có muốn thay đổi sự việc cũng hoài công. Chỉ hy vọng sẽ thay đổi chính mình, thay đổi cách nhìn về công việc, thay đổi quan niệm về những công việc nhỏ nhưng không nhỏ chút nào.

Lạy Chúa! Xin cho con luôn biết chu toàn bổn phận với một tình yêu mến. Xin cho con biết Ngài muốn con làm gì.

Thứ Hai, 9 tháng 5, 2011

"Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” (Ga 6,35)

Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2011

Thứ Năm, 5 tháng 5, 2011

Kinh chiều

Hồn con mảnh đất khô cằn.
Chờ mong từng giọt ăn năn giữa đời
Tình yêu dẫu biết cao vời,
Mà sao con vẫn một trời điêu linh.
Này đây hư nát ân tình,
Xin vùi xuống đất ươm hình yêu thương.
Mầm lên hạnh phúc vô thường
Dâng về Cha mến chút hương đầu mùa....
Ai tin vào người Con thì được sự sống đời đời (Ga 3,36)

Thứ Tư, 4 tháng 5, 2011

Kẻ sống theo sự thật thì đến cùng ánh sáng” (Ga 3, 21a)

Thứ Ba, 3 tháng 5, 2011

Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống (Ga 14,6)